13:46 EDT Thứ hai, 29/05/2017

Menu

Trang nhất » Tin Tức » ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

KHẢ NĂNG CÓ VIỆC LÀM VÀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC – ĐỊNH NGHĨA VÀ QUAN ĐIỂM

Thứ sáu - 14/09/2012 13:09
Việc làm của SV

Việc làm của SV

Từ lâu, tác động của giáo dục đại học đối với thị trường lao động được xem là một quan điểm gây khá nhiều tranh cãi. Để đánh giá được tác động này, các chuyên gia giáo dục đại học trên thế giới đã tìm ra một chỉ số quan trọng đó là khả năng có việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Tuy nhiên, chỉ số này cũng tốn không ít giấy mực của giới chuyên gia. Bài viết sau đây trích dẫn của tác giả Mantz Yorke sẽ giúp chúng ta phần nào hiểu được khái niệm này qua những mô tả khái quát từ nhiều định nghĩa khác nhau về khả năng có việc làm.
           Từ lâu, tác động của giáo dục đại học  đối  với  thị  trường  lao  động được xem là một quan điểm gây khá nhiều tranh cãi. Để đánh  giá được tác động này, các chuyên gia giáo dục đại học trên thế giới đã tìm ra một  chỉ  số  quan  trọng  đó  là  khả năng có việc làm  của sinh viên tốt nghiệp. Tuy nhiên, chỉ số này cũng tốn  không  ít  giấy  mực  của  giới chuyên gia. Bài viết sau đây trích dẫn  của  tác  giả  Mantz  Yorke  sẽ giúp chúng ta phần  nào hiểu được khái  niệm  này  qua  những  mô  tả khái quát từ nhiều định nghĩa khác nhau về khả năng có việc làm.
Thị trường lao động mong đợi gì từ giáo dục đại học?
          Để có thể thấy rõ được vai trò của giáo dục đại học đối với toàn nền kinh tế  thì  chúng ta cần phải phân biệt rõ hai hoạt  động: thứ nhất là cung cấp những hiểu biết,  kỹ năng chuyên môn và thứ hai là khuyến khích phát triển những kỹ năng, tính cách cá  nhân của sinh viên. Trong khi hầu hết những  nhà tuyển dụng trên thế giới đều hài lòng với  hiểu biết  và  kỹ  năng  chuyên  môn  của sinh viên – kết quả tất yếu của việc theo học đại  học nhưng họ lại rất không hài lòng với  những kỹ năng tổng  quát  như  kỹ  năng  giao  tiếp, làm  việc  nhóm  và  quản  lý  thời gian…
Tác giả  Harvey  và  đồng  nghiệp (1997)  đã  chỉ  ra  rằng  nhà  tuyển dụng tại Anh thường xem trọng các kỹ năng tổng quát hơn  là sự hiểu biết và kỹ năng chuyên môn.  .Về vấn đề này, tác giả Brown và đồng nghiệp (2002)  cũng trích ý kiến của một  trưởng  phòng nhân sự: “Bằng cấp  chỉ  là  một  yêu  cầu  nhỏ  mà chúng tôi đặt ra cho các ứng cử viên trong hồ sơ xin việc. Ngày nay, việc có bằng cử nhân là một điều hiển nhiên”  (Brown  và  đồng  nghiệp,2002, tr.19).
          Trong hai ví dụ trái ngược nhau sau đây giữa ngành công nghệ thông tin và công tác xã hội  thì một số nhà tuyển dụng lại coi trọng kiến  thức và hiểu biết chuyên môn. Thật vậy, trong lĩnh vực công nghệ thông tin, văn bằng do các trường đại học cấp hiện đang bị cạnh tranh gay gắt bởi các chứng chỉ nghề nghiệp do  các công ty hàng đầu trong ngành cấp như  chứng chỉ quản trị mạng của Microsoft… (theo Adelman, 2001). Bên cạnh đó, các trường đại học do doanh nghiệp thành lập  cũng phát triển rất nhanh tại Mỹ và Anh, ví dụ như  Trường  Đại  học  Y  tế  Công (National HealthService University).       Tuy   nhiên,     đối       với những nhà tuyển dụng khác thì sinh viên tốt nghiệp chỉ cần có những kỹ năng tổng quát (theo HEQC, 1997).
Điều đó bao gồm cả tính cách, giá trị và những kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp. Purcell và Pitcher (1996) đã lưu ý rằng khoảng 40% các mẫu quảng cáo tuyển dụng trong  nhiều năm cho thấy vị trí công việc hầu như  không  đòi  hỏi  nhiều  về  hiểu biết  và  kỹ  năng  chuyên  môn  của sinh viên tốt nghiệp. Thông điệp từ những trường hợp trên đã cho thấy rằng chúng ta phải đào tạo ra những sinh viên không những giỏi chuyên môn  mà  còn  linh hoạt  trong giao tiếp. Từ đó, chúng ta cần phải có đủ chuyên gia để thiết kế chương trình giáo dục cho phù hợp.
               Ý kiến  trên  cũng  nhất  quán  với quan điểm của Reich (1991, 2002). Trong  nghiên   cứu  mới  nhất  của mình, Reich đã lập luận  rằng, hầu hết các nước phát triển đều cần hai loại chuyên gia: thứ nhất là chuyên gia  nghiên  cứu, phát minh và thứ hai là chuyên  gia áp  dụng và cải tiến những phát minh sẵn có. Reich cũng cho biết hai loại chuyên gia này (ông gọi là những nhà chuyên gia hàng  đầu) đều có chung những giá trị nhất định.  Theo ông, những chuyên gia này vừa có hiểu biết và kỹ  năng  chuyên  môn  và  kỹ năng tổng  quát  (kỹ  năng  mềm)  để  vận dụng tối đa những kiến thức chuyên môn vào thực tế. Vai trò chính của giáo  dục đại học đối  với  sự  phát triển của một quốc gia chính là đào tạo ra những sinh viên tốt nghiệp vừa giỏi  về kiến thức chuyên môn lại vừa có thể vận dụng vào thực tế một cách linh hoạt. Điều  này  cũng đồng nghĩa với việc chương  trình đào tạo đại học nên quan tâm đến bốn vấn đề cụ thể sau đây:
1) Khả năng trừu tượng (lý thuyết hóa  hoặc  gắn  kết  các  dữ  liệu thực tế với lý thuyết, và sử dụng các công thức, phương trình, mô hình, ẩn dụ);
2) Khả  năng  tư  duy  có  hệ  thống (đặt chi tiết vào bối cảnh chung);
3) Khả  năng  thực  nghiệm  (một cách trực giác hoặc một cách có phân tích)
4) Khả năng hợp tác (bao gồm: kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm…).
Các trường đại học không phải lúc nào  cũng   thành  công  trong  việc cung cấp cho người học những đặc điểm của hai dạng chuyên  gia đã được Reich nêu ra ở trên. Thay vào đó,  nhà trường thường chỉ yêu cầu sinh viên học  những gì được cung cấp, ngoài ra phải tự thân vận động và cạnh tranh với nhau trong  quá trình  học  tập,  trong  khi  nội  dung chương trình lại không có tính liên kết. Rõ ràng là để đào tạo ra những chuyên gia hàng  đầu – người luôn dẫn đầu trong lĩnh vực – đòi hỏi nhà trường phải bỏ ra khá nhiều công sức  để thúc đẩy những giá trị mà Reich đã nhấn mạnh.
Tuy nhiên, mục đích của giáo dục đại học không phải chỉ để đào tạo ra những chuyên gia hàng đầu như thế, còn nhiều cách khác để giáo dục đại học có thể đóng góp cho sự phát triển  của  xã  hội.  Bên  cạnh  việc chuẩn bị  cho sinh viên tốt nghiệp những kỹ năng để làm tốt yêu cầu công việc  trong  tương  lai  (không nhất  thiết phải là  một chuyên gia hàng đầu), giáo dục đại học còn có vai trò thúc đẩy việc học  tập suốt đời (ví dụ: tập huấn  cho các nhà lãnh đạo cấp trung; cập nhật kiến thức, kỹ năng cho giảng viên, công nhân; tạo điều kiện cho việc đào tạo những công dân năng động,…)
Giải mã khả năng có việc làm
         Có nhiều cách lý giải khác nhau về “khả năng có việc làm”, sau đây là những định nghĩa của Pierce (2002) và của Nhóm điều  phối hoạt động tăng cường khả năng có việc  làm của sinh viên (ESECT):
Trong bảng trên, có 03 yếu tố quan trọng cấu thành khả năng có việc làm, tuy nhiên chúng lại tạo nên sự mơ hồ cho những yếu tố sau đây:
-    Khả năng có việc làm được thể hiện   bằng   việc  sinh  viên  tốt nghiệp thật sự có được việc làm;
-    Khả năng có việc làm được thể hiện qua những kinh nghiệm, giá trị mà sinh viên đã đạt được khi học đại học (từ hoạt động chính khóa hoặc ngoại khóa);
-    Khả năng có việc làm được thể hiện qua  những thành công và tiềm năng của sinh viên.
Khả năng có việc làm không đồng nghĩa với việc đƣợc tuyển dụng
Pierce ESECT
• Sinh viên sau khi tốt nghiệp có được việc  làm (có  thể  đánh  giá  được thông qua  khảo  sát  việc  làm  đầu tiên) • Sinh viên sau khi tốt nghiệp có được việc làm đúng chuyên môn
 
• Sinh  viên  được  trang  bị  kỹ  năng tuyển dụng • Sinh viên đạt được những chứng chỉ nghề
• Sinh viên có được kinh nghiệm làm việc  (đúng chuyên  môn  hay  phi chuyên môn, thực tế hay trên lý thuyết) • Kinh nghiệm làm việc đúng chuyên môn
 
• Kinh nghiệm chuyên môn (có liên quan)      
 
• Vận dụng tốt những kinh nghiệm làm  việc phi chuyên môn hoặc kinh nghiệm  từ  hoạt động tình nguyện
• Sinh viên được trang bị nhiều kỹ năng khác nhau • Sinh viên đạt được những kỹ năng quan trọng
  • Sinh viên có khả năng hoạch định nghề nghiệp và kỹ năng phỏng vấn tốt
 
  • Kết hợp các kỹ năng thuộc về nhận thức và phi nhận thức

      Tại Anh, chỉ số hoạt động cốt lõi trong giáo dục đại học chính là tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp  có được việc làm (HEFCE, 2001) – bất cứ  việc làm  nào  không  nhất  thiết  phải  là việc  làm  đúng  chuyên  môn.  Tuy nhiên, Purcell và Elias (2002) đã chỉ ra  rằng thời  gian  kiếm  được việc làm đúng chuyên môn sẽ khác nhau giữa các sinh viên có chuyên ngành khác  nhau.  Đối với một số chuyên ngành  nhất   định,  thời  gian  này không chỉ là vài tháng mà có thể tới vài  năm.  Trong  bối  cảnh   khủng hoảng kinh tế toàn cầu, những biến động        tại địa phương và khu vực đã gây ra nhiều tác động đến nền kinh tế quốc gia, khiến khá rõ tình trạng trên (báo cáo của Giáo  sư   Russell  Linke  và  đồng nghiệp về chỉ số  hoạt  động cốt lõi trong  giáo  dục  đại  học  thực  hiện năm 1991 tại Úc):
“Trong bối  cảnh  chung  của  toàn trường  hay xét riêng từng chuyên ngành thì việc cố  gắng lý giải sự khác biệt giữa các trường  đại  học thông qua việc làm của sinh viên tốt nghiệp vẫn chứa đựng nhiều vấn đề cần lưu ý. Chúng ta cần hiểu rõ tác động tương đối giữa các nhân tố về bối cảnh kinh tế khu vực, đặc điểm của trường, chuyên ngành học cũng như hoàn cảnh cá nhân   của sinh viên lên xu hướng  lựa chọn  nghề nghiệp đầu tiên trước khi có thể đưa cho việc được ra  bất  kỳ lý giải nào tuyển dụng trở thành một chỉ số gây nhiều tranh cãi. Dữ liệu của Purcell và Elias cho  thấy rằng mặc dù số lượng sinh viên tốt  nghiệp tại Anh có được việc làm đã tăng lên  đáng kể trong vòng 25 năm trở lại đây nhưng xu thế này không phải là kết quả của  việc đào tạo quá nhiều cử nhân đại học và  cho  đến nay, việc sinh viên kiếm được việc làm đúng chuyên môn vẫn diễn ra khá chậm chạp và ngắt quãng. Đoạn trích sau đây từ Báo cáo Linke cũng mô tả về sự  khác  biệt  giữa  các  trường. Thậm chí ngay cả khi hiểu rõ những nhân tố đó, chúng ta cũng cần phải kiểm  soát  được  những  xu  hướng thay đổi theo thời gian hơn là chỉ dựa  vào dữ liệu cố định của một năm duy nhất. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận  được tác động của dữ liệu về nghề nghiệp đối với các cấp quản lý vì nó giữ vai trò thiết yếu  không thể chối cãi trong quá  trình  hoạch  định  chính  sách giáo dục và kinh tế. […] Đúng hơn là, thực tế cho thấy sự khác biệt về tình  trạng  nghề  nghiệp  của  sinh viên hầu như không có mấy ý nghĩa nếu nó được xem là  một trong số những chỉ số quan trọng của  một trường đại học, vì vậy, dữ liệu này không  phải là một chỉ số giúp ích cho việc  so  sánh giữa các trường với nhau”.        (Linke,1991,Vol.1, p.89).
Những lý luận và cả những vấn đề được nêu  trong Báo cáo Linke vẫn còn giá trị đến ngày  nay vì đã có một nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện dựa trên báo cáo này.
          Tuy nhiên, khái niệm khả năng có việc  làm  lại  nhấn  mạnh  đến  khả năng có thể đáp ứng  được yêu cầu công việc của sinh viên tốt nghiệp, vì vậy không nên nhầm lẫn với việc có được việc làm (được tuyển dụng) bất kể việc làm đó có đúng chuyên môn hay không. Dĩ nhiên là khi bỏ qua các yếu tố khác, nếu khả  năng có việc làm của một sinh viên càng cao thì sinh viên đó sẽ càng nhanh có được việc làm đúng chuyên môn.

Tác giả bài viết: Vũ Kim Khôi

Nguồn tin: Trung tâm Khảo thí & ĐGCLĐT - ĐHQGHCM

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn